fbpx

Cây màn ri (Cây Mần Ri) là một cây thuốc hay nhưng ít được biết đến, nơi sống và thu hái: cây của vùng Ấn Ðộ, Malaysia, Việt nam, mọc hoang ở chỗ đất thấp, bãi trống, dọc đường đi. Xin giới thiệu sau đây để mọi người tham khảo…

Cây màn ri, Cây Mần Ri, mùng ri, màn màn tím, Màn ri tía, Màn ri tím – Cleome chelidonii L.f (Polanisia chelidonii (L.f) A. DC), thuộc họ Màn màn – Capparaceae.

Mô tả: Cây thảo cao 20-40cm. Thân có ít lông 5 cạnh, màu xanh dợt hay đỏ. Cuống lá bằng phiến hay gấp rưỡi phiến lá, mang 3 lá chét, lá giữa lớn hơn, có lông thưa sát. Hoa đơn độc ở nách lá, cuống dài hơn lá; 4 lá đài xanh, 4 cánh hoa tím thường vểnh ra, 6 nhị, có bao phấn màu lam. Bầu có lông, vòi nhuỵ ngắn. Quả cái dài. Cây ra hoa quanh năm.

Bộ phận dùng: Thân lá và rễ – Herba et Radix Cleomes.

Thành phần hoá học: Hạt chứa 0,1% acid viscosic, 0,04% viscosin.

Nơi sống và thu hái: Cây của vùng Ấn Ðộ, Malaixia, mọc hoang ở chỗ đất thấp, bãi trống, dọc đường đi. Thu hái cây quanh năm.

Tính vị, tác dụng: Vị cay, tính ấm, không độc, có tác dụng hạ khí, tiêu đờm, làm hết nấc cụt, hết chóng mặt.

Công dụng, chỉ định và phối hợp: Màn ri tía được dùng chữa các chứng cảm cúm nóng lạnh, nhức đầu, ho hen, và chứa cả rắn cắn. Lá dùng chữa viêm đau thận.

Ở Ấn Ðộ, rễ dùng làm thuốc trị giun; nước sắc cây dùng chữa viêm gan mạn tính và bệnh ngoài da.

Ðơn thuốc:

1. Ðau chín mé: Dùng cây lá Màn màn tím đẫm với một ít muối ăn đắp bó ngón tay vào buổi tối.

2. Nhức đầu: Cành lá Màn màn tím đâm nát đắp vào thái dương.

3. Sưng hạch ở cổ, ở cạnh tai, sưng vú: Cành là Màn màn tím tươi giã đắp.

Một tài liệu khác về cây Màn màn ri

Phân bố : Ấn Độ, Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Campuchia, Việt Nam, Malaixia. Ở nước ta có gặp từ Hòa Bình, Hà Nội, Thừa Thiên – Huế, Đà Nẵng, Phú Yên, Khánh Hòa đến thành phố Hồ Chí Minh.
Cây mọc hoang trên bờ bãi và dọc các đường đi. Ra hoa quả quanh năm.
Nơi sống và thu hái: Cây của phân vùng Ấn Ðộ, Malaixia mọc dại ở đất hoang và dọc các đường đi. Thu hái cây quanh năm.
Tính vị, tác dụng: Lá làm chuyển máu, gây phồng, làm ra mồ hôi. Hạt lợi trung tiện, trị giun, chuyển máu, gây phỏng.
Bộ phận dùng: Toàn cây – Herba Cleomes. nấu nước xông chữa nhức đầu. Nước ép lá dùng nhỏ vào tai hoặc dùng làm thuốc đắp chữa đau tai. Rễ có tính kích thích và chống bệnh hoại huyết, bệnh chảy máu chân răng. Quả non ăn kích thích tiêu hóa. Hạt làm thuốc xoa bóp chữa tê thấp và cũng dùng trị giun.
Ở Ấn Độ, lá dùng đắp vết thương và loét. Dịch lá dùng trị đau tai.

Trả lời

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.

.