fbpx
  1. Miệng biết vị ăn là : Ngoại cảm
  2. Miệng không biết vị ăn là : Nội thương
  3. Miệng đắng là mật nóng
  4. Miệng ngọt là tỳ nóng
  5. Miệng nhạt là dạ dày nóng – Lưỡi khô miệng ráo là dạ dày nóng lắm.
  6. Nhức đầu không ngừng là ngoại cảm – có lúc ngừng là nội thương
  7. Mu bàn tay nóng là ngoại cảm – lòng bàn tay nóng là nội thương
  8. Đầu ngón tay lạnh là cảm hàn – nếu lúc nào cũng lạnh là hư yếu
  9. Đại tiện bế mà khát và đầy chướng là thực chứng – Nếu chỉ bế mà không khát là hư chứng.

10. Tiểu tiệu trong mà nhiều là tà ở ngoài biểu, đỏ và sẻn là tà ở lý.

11. Lòng bàn chân nóng là âm hư hỏa bốc lên từ huyệt Dũng Tuyền trở lên

12. Uống nước lạnh thấy dễ chịu là ở trong nóng – ưa nước ấm là trong hàn

13. Ngày nhẹ đêm nặng là huyết bệnh – đêm nhẹ ngày nặng là khí bệnh

14. Dưới mỏ ác đầy là vì uống thuốc hạ sớm quá mà bỉ khí lại – Nếu lấy tay xoa vào mà nghe có tiếng và mềm là nước đình tích lại, nếu xoa mà tản đi là khí hư, nếu xoa mà dắn đau là thức ăn chứa lại.

15. Ngủ mà ngoảnh ra chổ sáng là dương khí thực, ngoảnh vào chổ tối là âm khí hư.

16. Bệnh lúc khỏi vẫn cảm thấy không được sung sướng mà ít tư tình với người ngoài là chứng khí thương hàn thêm khí hư.

17. Bệnh mới khỏi đã mệt nhọc muốn nằm, xương cốt đau là chứng lao lực thương hàn.

18. Những bệnh tai điếc vì tà khí nhiễm vào là khó chữa, cũng có người thuộc chứng dương minh, cũng có người thuộc kinh thiếu dương, phải xem mạch mới rõ.

19. Khắp mình xương cốt đau nhức, nếu là ngoại cảm thì tà còn ở ngoài biểu – nếu là nội thương thì bởi khí huyết không đều xương cốt đau nhức và thêm nặng mình là có thấp khí.

Tôi xét bệnh chứng nhiều giả tượng, trong một chứng có hư có thực, như tôi đã bàn ở trên đại khái chữa bách bệnh căn cứ vào nguyên khí, người bẩm sinh vốn mạnh thì chữa theo thực chứng, còn bẩm sinh vốn yếu thì chưa theo chứng hư, bệnh nhẹ là bởi khí huyết, thụ thương bệnh nặng bởi thủy hỏa làm hại, dù có tà khí ở ngoài cũng chỉ là đầu mối để phát bệnh. Nôi kinh nói: Tà khí cảm vào là chính khí phải hư yếu, nếu nguyên khí còn thực thì tản tà rồi bổ cho chính khí, nếu nguyên khí thật hư yếu thì trước sau chỉ nên bổ chính khí mà chỉ thêm vị thuốc để trục tà có khi chỉ bổ mà tà khí tự lui.

Đông y nghe tiếng nói của bệnh nhân để đoán bệnh như thế nào?

Đông y nghe tiếng nói (văn thanh) và nghe hơi (văn khí) của bệnh nhân, hơi ở đây là hơi tiếp cho tiếng nói và hơi xông ra từ người bệnh như mồ hôi, đờm rãi.

–         Bệnh nhân thuộc dương (nóng – nhiệt) thì : Nói nhiều

–         Bệnh nhân thuộc âm (hàn – lạnh) thì : Ít nói

–         Tiếng nói mạnh mẽ là : Thừa hơi

–         Tiếng nói yếu ớt là: Thiếu hơi

–         Tiếng nói lí nhí không ra khỏi là hơi sắp cạn (khó sống)

–         Người lớn hay trẻ con trúng phong mà không nói được (khó chữa)

–         Khi nói không đủ tiếp cho tiếng nói, chưa nói hết lời này đã nói sang lời khác cũng là khí sắp cạn.

XEM KHÍ SẮC ĐỂ ĐOÁN BỆNH NÊN CÓ PHẦN TỈ MỈ.

Ở mặt hiện sắc:

  1. Vàng là bệnh ở tỳ (lá lách) – vị
  2. Trắng là bệnh ở phế – đại trường
  3. Đỏ là bệnh ở tâm – tiểu trường
  4. Xanh là bệnh ở can – đởm
  5. Đen là bệnh ở thận – bàng quang

–         Vàng là thấp – Trắng là hàn táo

–         Đỏ là hỏa – Xanh là phong

–         Đen là đàm uất , đau nhức

–         Vàng ở đầu mũi và ở 2 bên cánh mũi là bệnh ở lá lách và dạ dày, cũng có khi màu ấy hiện ở môi cũng là lá lách.

–         Trắng ở ấn đường (giữa 2 đầu mi) và ở ngoại tầm (là ở dưới mắt) là bệnh ở phổi – đại trường, cũng có khi sắc ấy hiện ở đầu mũi là phổi hàn.

–         Đỏ ở sơn căn (đầu mũi) và 2 bên sống mũi cạnh chân mũi là bệnh ở tim và ruột non, cũng có khi màu sắc ấy hiện ở lưỡi là tượng ngoài của tim

–         Xanh ở thọ trường (giữa sống mũi) và 2 bên thọ trường là bệnh ở gan – mật, cũng có khi sắc ấy hiện ở lòng trắng mắt là tượng của gan hàn.

–         Đen ở 2 bên má và ở nhân trung là bệnh ở thận – bàng quang.

Nhu cầu phân tích căn cứ vào sinh lý của tướng thuật đã hấp thu rất nhiều thành quả của y học cổ truyền thống cổ đại của Trung Quốc khiến cho y học và tướng thuật có mối liên hệ chặt chẻ.

Toàn bộ của Trung Y có thể khái quát thành mô thức vũ trị lấy âm dương – ngũ hành làm bản nguyên và các thuyết âm dương, nóng lạnh, ngũ hành, ngũ tạng, lục khí được xây dựng trên cơ sở người hợp với số trời. Trung Y cho rằng: Ngũ tạng, lục phủ, ngũ quan, cửu khiếu của con người không những là một thể thống nhất mà còn phải phối hợp tương sinh tương thắng, tác động lẫn nhau với bốn mùa, bốn phương. Ngũ hành, ngũ vị, ngũ âm, ngũ thanh, ngũ sắc, ngũ tinh, ngũ khí hòa với âm dương, điều hòa với 4 mùa.

Tiếng nói hòa hợp với ngũ âm, khí sắc hòa hợp với ngũ hành thì người đó mới trường thọ, thông minh, thuận theo đạo tự nhiên nếu không như vậy sẽ xuất hiện tai họa bệnh tật, bởi vì sinh lý của con người có mối liên hệ nội – ngoại – giữa – trong và có sự hợp ứng với nhau, cho nên ngũ quan, cửu khiếu, da, tóc, khí sắc đều là biểu tượng cho ngũ tạng – lục phủ tương ứng với nhau, ta có thể phân tích hình thái biểu lộ ra bên ngoài để thấy được đặc tính của nội tạng, suy ra bệnh lý của cơ thể: Thận sinh não – tai dày chắc thì thận khỏe. Tai mỏng thì thận yếu – Tai thông với não và thận là biểu trưng của tim và thận.

Trích Bảo Giám Thần Phương – L.Y Trần Văn Căng

Trả lời

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.

.