fbpx

LỤC KINH VÀ BIỂU LÝ

Lấy kinh Thái Dương và kinh Thái Âm là quý.

Tam dương là kinh Túc Thái Dương là bàng quang đi từ đuôi trong mắt đến đầu rồi chia ra làm 4 ngã đi xuống cổ theo mạch chính rời khỏi mạch chính chia ra làm 6 biệt rồi đến lưng đó là kinh mạch lớn ở trong thân người.

Nhị dương là kinh Túc Dương Minh là dạ dày đi từ mũi và cổ họng  rồi chia 4 biệt rồi chia ra 6 biệt của mạch chính đi lên rồi xuống vào bụng làm ràng buộc trong thân người.

Nhất dương là kinh Túc Thiếu Dương (mật) khởi từ đầu kinh lạc ở đuôi ngoài mắt rồi chia làm 4 biệt đi xuống Khuyết Bồn chia làm 6 biệt đi lên rồi xuống mọi bộ du hành trong thân người.

Gọi là kinh là du bộ để rỏ ngũ tạng sau hay trước là nhờ 3 kinh ấy để giữ cho ngoài biểu cho nên gọi là tam kinh ngoài biểu,

Vì thế tam dương ngoài biểu, nhị âm trong lý, nhị âm thức là kinh Túc Thiếu Âm thuộc tạng Thận, kinh Túc Thái Âm thuộc tạng Tỳ. Nhất dương là biểu, nhất âm là trong lý, nhất âm là kinh Túc Quyết Âm về tạng Can.

KINH Ở CHÂN HỢP 12 THÁNG

Tháng giêng thuộc Dần, Dần sinh dương chủ về kinh Thiếu Dương ở chân trái, tháng 6 là tháng Mùi thời kinh Thiếu Dương ở chân phải, mạch khí đều đi từ ngón chân thứ 4 của hai bàn chân.

Tháng 2 là tháng mão chủ về kinh Thiếu Dương ở chân trái, tháng 4 là tháng Tỵ là kinh Dương Minh ở chân phải mạch của khí đều đi từ đầu ngón chân thứ 2 ở hai bàn chân.

Những tháng 1, 2, 5, 6 là kinh Thiếu Dương và Thái Dương mà tháng 3, 4 là tháng Thìn, tháng Tỵ ở khe giữa ngón chân thứ 2 dương giáp lại làm sáng tỏ đàng trước nên gọi là kinh Dương Minh.

Tháng 7 là tháng Thân âm khí đã sinh thời chủ về kinh Thiếu Âm ở chân phải, mà tháng 12 là tháng Sửu là tà kinh Thiếu Âm ở chân trái mạch khí đi từ lòng bàn chân (hai bên).

Tháng 8 là tháng Dậu chủ về kinh Thái Âm ở chân phải mà tháng 11 là Tý thời kinh Thái Âm ở chân trái mạch khí đều đi từ mé ngón chân chân cái phía trong hai bàn chân.

Tháng 9 là tháng Tuất chủ về kinh Quyết Âm ở chân phải, nhưng tháng 10 là Hợi là kinh Quyết Âm ở chân phải đến cuối tháng 10 thì kinh Quyết Âm ở chân trái mạch khí đều đi từ ngoài ngón chan cái của hai bàn chân.

Quyết có nghĩa là hết, Quyết Âm ứng vào tháng Tuất tháng Hợi thời nhất âm gần tuyệt, tuyệt rồi lại khởi lên đó là nghĩa của ngày hối, rồi sang ngày sác tức là đi hết ngày 30 rồi tới ngày mùng 1 vì rằng ngày hối thời khí âm hết sau ngày sác khời khí âm lại sinh cho nên mạch quyết âm tuyệt rồi lại khởi lên đó là lẻ của kinh Quyết Âm.

Kỳ Bá nói: Tam dương như cha đẻ, nhị dương để bảo vệ, nhất dương là kỷ cương, tam âm như mẹ đẻ, nhị âm như loài mái, nhất âm để sử dụng.

Trích Y Tôn Tinh Hoa Tập Lục – L.Y Trần Văn Căng

Trả lời

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.

.