fbpx
  1.  DƯƠNG NHỤC ( Thịt dê)
  • Tính chất: Khí ôn, vị cam, không độc.

Thịt dê ăn nó khai vị, thông khí, bổ hư lao, thêm khí lực, làm mạnh dương sự, cứng xương gân, ấm được trung tiêu, yên được tâm thận, chứng gió độc vào đầu óc,

Trị trẻ con động kinh, đàn bà khí huyết hư hao sau khi sanh, đàn ông vì mệt nhọc mà khí huyết suy kém.

Dê có nhiều thứ, thứ ở núi, thứ nuôi. Giống dê có thai 4 tháng là sinh, mắt nó không có thần ở đồng tử, ruột nó mỏng mà loanh quanh quấn quýt, thịt dê tính nó có thể làm khỏi mọi chứng đau, lợi cho đàn bà mới sinh. Nó còn giải được phong, chóng mặt, hay gầy còm ốm yếu, cùng chứng đàn ông ngũ lao, thất thương, chứng tiểu nhi kinh giãn. Những cũng không nên ăn nó quá nhiều mà sinh ra động khí, có khi phát ra nóng nảy buồn phiền, nhất là chớ bao giờ ăn nó với quả bí ngô, có thể là cho ủng khí mà sinh ra bệnh tật.

Lưu ý: Chứng cảm, sốt rét báng tích, chứng lỵ, chứng hoàng đản, chứng trướng đầy, chứng cuồng, chứng suyễn, chứng đau bụng hoắc loạn phải kiêng.

DƯƠNG NGOẠI THẬN (Hòn Dái Dê)

  • Tính chất: Khí ấm, vị ngọt, không độc.

Công dụng: Chữa chứng thận hư nên tinh khí hay hoạt thoát dùng nó rất hay.

DƯƠNG THIỆT ( Lưỡi dê)

Công hiệu: Bổ trung ích khí. Dùng lưỡi dê 1 cái, da dê 2 bộ, cật dê 4 cái cùng táo gừng nấu như nấu canh ăn rất tôt.

DƯƠNG CỐT ( Xương dê )

  • Tính chất: Khí nóng, vị cam, không độc.

Chủ trị: Hư lao mà trong lạnh, người gầy ốm yếu, hay là chứng thận hư, lưng đau cất nhắc khó khăn.

DƯƠNG VĨ CỐT ( Xương đuôi dê )

Công hiệu: Bổ thận kinh làm sáng mắt, nó bổ cho hạ tiêu hư lảnh.

DƯƠNG ĐỖ ( Dạ dày )

  • Tính chất: Khí ôn, vị cam, không độc

Công hiệu: Chữa được chứng  phiền vị ( lộn mề ), làm cho khỏi chứng hư hản, chứng mồ hôi trộm, chữa được hư lao, ốm yếu gầy còm, chứng cứ đi tiểu luôn.

DƯƠNG IẾP ( Nuốm cổ họng dê )

  • Tính chất : Khí ôn, vị cam đạm, không độc.

Công hiệu: Chữa được chứng khí kết làm ra chứng anh lựu (tham khảo tư liệu). Xét các sách xưa và các bài bổ phương chữa chứng anh lựu nhiều khi có dùng nuốm cổ họng con lợn hoặc dê cũng đều thuận. Nhưng chứng anh lựu có 5 giống là : Khí, huyết, nhục, can, thạch. Bởi vì nuốm cổ họng nó thuộc về phổi, bởi phổi vó giữ về khí cho nên chứng khí anh lựu thì dùng nó tuyệt diệu  ( Ông Lý Thời Trân ).

DƯƠNG TỦY (Tủy dê)

  • Tính chất: Khí ôn, vị cam, không độc

Chữa được bệnh hạ bộ sinh dục ở trong, hay là người khí hóa âm dương không đủ, bởi vì tính nó hay lợi được huyết mạch, ích được thận kinh.

Dùng nó nấu mà ăn với rượu càng hay, chữa được mọi chứng phong nhiệt, giải được độc. Chứng với rượu ăn bổ huyết, nó nhuận được phế khí, đẹp râu tóc, nó làm cho hết được ngấn sẹo vết thương.

DƯƠNG ĐỞM ( Mật dê )

  • Tính chất: Hàn, vị đắng, không độc, chữa được chứng thanh manh, hay là đau mắt, có màng mộng kéo che hết cả mắt. Nó có thể làm cho người ta sáng mắt.

Dùng mật dê nhỏ vào mắt chữa được các thứ màng đỏ, màng trắng che tràn cả mắt hay là người bị gió làm ra đau mắt rồi nước mắt cứ chảy hoài vì tính nó giải được trùng độc.

DƯƠNG TÂM ( Tim Dê )

Con dê nào có sữa chớ dùng có thể giết người, hoặc quả tim nào bên trái có lổ chớ ăn chết người.

PHỔI DÊ

Chữa chứng lo lắng, chữa khỏi khát, nhưng nó từ tháng 3 đến tháng 5 nếu trong nó có sâu thì chớ ăn.

SỮA DÊ.

Khí ôn, vị cam, không đôc.

Chủ trị: Bổ phế và thận, nhuận được đại trường.

Trẻ con động kinh, trị được trẻ con sáng ăn chiều thổ, chứng ráo khát, lưỡi sưng miệng lở và bôi trừ được nọc độc của nhện cắn.

DƯƠNG THẬN ( Bầu dục dê)

  • Tính chất: Khí ôn, vị cam, không độc

Chủ trị: Bổ dương khí và vị phủ, chỉ được tiểu tiện đi luôn, chữa chứng thận hư tai điếc và chứng hao tổn, hay là mồ hôi trộm. Dùng nó với mở nó ăn chữa được chứng trưng hà.

SỪNG DÊ

  • Tính chất:  Khí ôn, vị tân, không độc.

Chủ trị: Chứng thanh manh, kinh giản, vì lạnh mà đi tả, chứng nhức đầu, khí kết ở các đốt xương. Đàn bà sinh rồi vẩn thấy đau bụng và chứng thổ huyết nó chữa rất hay, thái mỏng sao giòn tán bột để dùng.

GAN DÊ.

  • Khí hàn, vị khổ, không độc.

Chủ trị: Các chứng gió độc vào gan, mình nóng hâm hấp, mắt đau và đỏ hoặc là sáng dậy mắt lòa thì dùng nó rất hay.

Ông Lý Thời Trân nói rằng: Trong sách Khai Vị Tập có nói: Dương can bổ can, hợp với các thứ thuốc chữa gan và dẫn các thứ thuốc vào gan. Trong các loài thú chỉ có gan dê là bổ ích cho mắt, còn gan giống khác chỉ không bổ ích cho mắt mà có khi làm hại mắt, bởi vì các giống khác khi bị giết những khí tức giận tụ vào gan cho nên huyết ở gan không lợi cho mắt.

Trích Bảo Giám Thần Phương

Trả lời

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.

.