fbpx

Trong một năm, mùa Xuân mùa Hạ thuộc dương. Mùa Thu mùa Đông thuộc âm .

– Trong một tháng, sau ngày mùng một thuộc dương, sau ngày rằm là âm.

– Trong một ngày, ngày là dương, đêm là âm.

– Trong 12 giờ, từ giờ Tý đến giờ Dần là giờ dương, dương ở trong âm từ giờ Mão đến giờ Tỵ là dương hoàn toàn dương.

– Từ giờ Ngọ đến giờ Thân là âm ở trong dương.

– Từ giờ Dậu đến giờ Hợi là âm ở trong âm.

TIẾT ĐÔNG CHÍ

Tiết đông chí nhất dương sinh, tiết hạ chí nhất âm sinh, cho nên 2 tiết này rất là thiết yếu trong nền y học của chúng ta. Chí nghĩa là đến cùng cực là tuyệt, tuyệt rồi lại sinh. Khí âm cực độ thì khí dương sinh, thế là từ không mà có. Khí dương cực độ thì khí âm sinh, thế là từ có mà không, đó là nghĩa âm dương biến hóa.

Tiết đông chí là vì mất dương mới sinh. Nội kinh nói: Ở dưới địa vị hành Hỏa thì khí hành Thủy lấn đi, dưới địa vị hành Thủy thì hành Thổ lấn đi, dưới địa vị hành Thổ thì khí của gió lấn đi (phong mộc can), ở dưới địa vị của gió thì khí hành Kim lấn đi, dưới địa vị hành Kim thì hành Hỏa lấn đi, đó là nghĩa mạnh thì hại lấn đi là dẹp đi.

Như tiết đông chí là âm cực độ thì khí dương sinh để lấn đi, tiết hạ chí khí dương cực độ thì khí âm sinh để lấn đi. Nhưng tiết đông chí nhất dương đã sinh thì nên ôn hòa mà sao tháng Chạp lại rét quá. Tiết hạ chí nhất âm đã sinh thì nên mát mẻ mà sao lại nắng ấm lại oi bức? Là vì lẽ người thành công thời lui mà người sắp đến thì theo về chổ ẩn.

Vì rằng khí dương còn lẩn ở dưới thì bức khí âm trở lên, nước giếng bốc hơi lên mà đóng băng lại, khí âm thịnh ở dưới thì bức khí dương lên trên. Như thế hơi nước giếng lạnh mà vẫn có sấm chớp, suy ra thì bệnh nhân mặt đỏ phiền khát, ho nhổ, ai không cho là chân hỏa thịnh, nhưng biết đâu âm hàn ở trong tạng Thận bức bách hỏa trở lên, chứng ấy chữa bằng thuốc hàn lương không biết chết bao nhiêu người.

Trời trùm ở ngoài đất là một (thái cực), mà trong thân ngưới là một khí dương ở trong hai khí âm, mệnh môn ở khe hai quả thận thế là trong dương có âm. Con trai dương ở ngoài âm ở trong, con gái âm ở ngoài dương ở trong, thế là thái cực trong thân người. Con trai lưng là dương mà phải gánh vác khí âm, con gái lưng là âm mà phải gánh vác khí dương, cánh tay chia ra tả hửu âm dương, thì con trai bên phải thuộc hành Hỏa mà là khí bên trái thuộc hành Thủy mà là huyết, con gái bên phải thuộc hành Thủy là huyết, tay bên trái thuộc hành Hỏa mà là khí. Những người trúng phong bất toại (bán thân) thì con trai phần nhiều bên trái, con gái phần nhiều bên phải là hành Thủy không sinh dưỡng được.

Trời thiếu về phương Tây Bắc, cho nên phương Tây Bắc là âm, mà trong thân người tai mắt bên phải không tỏ bằng tai mắt bên trái (ở trên bắt chước trời). Đất thiếu về phương Đông Nam, cho nên phương Đông Nam là dương, mà trong thân người tay chân bên trái không mạnh bằng tay chân bên phải (ở dưới bắt chước đất). Âm dương trong thân người thì lưng là dương bụng là âm, trên là dương dưới là âm, ngoài là dương trong là âm, nói nhiều là dương nói ít là âm, ưa sáng là dương ưa tối là âm. Đầu là mọi khí dương hợp lại, chân là mọi khí âm hợp lại, khí là dương huyết là âm, ngoài biểu là dương trong lý là âm (bì phu là biểu) ngực và bụng là trong lý, ở thớ thịt là bán biểu bán lý, vệ khí đi ở ngoài, mạch là dương, vinh huyết đi ở trong mạch là âm (vệ khí là vị khí, vinh huyết là can huyết). Sáu tạng là âm (tâm, can, tỳ, phế, thận và bào lạc) sáu phủ là dương (mật, dạ dày, đại tràng, tiểu tràng, bàng quang, tam tiêu) tinh đối với huyết thì tinh trong trẻo là dương, huyết nặng mà đục là âm. Tinh huyết đối với thần khí thì thần khí vô hình là dương, mà tinh huyết hữu hình là âm. Huyết sinh ra tinh, tinh sinh khí, khí sinh ra thần là đồng loại là ba của báu trong thân người. Về chứng bệnh thì khí âm mạnh cực độ lại tựa như dương, thế là hàn cực độ sinh ra nhiệt (tức là thủy cực tự hỏa hay là âm thịnh cách dương), khí dương mạnh cực độ thì tựa khí âm, thế là nhiệt cực độ sinh ra hàn (tức là hỏa cực tự sinh thủy hay là dương thịnh cách âm)

ÂM DƯƠNG DƯỠNG SINH

Bốn mùa âm dương là căn bản cho muôn vật, là gốc cho sống chết. Nếu khí của bốn mùa trái đi thì tai hại cho muôn loài mà bệnh tật phát ra. Dương như trời và mặt trời, nếu mất dương khí thì chết non mà không thọ, vì thế trời có mắt trời để sáng tỏ, người có dương khí để bảo vệ. Dương khí về tinh để nuôi tinh thần về sự mềm nhuận (nhu) thì để nuôi gân, cho nên dương khí chủ về ngày mà đi bên ngoài, ngày thì ở ngoài đi khắp thân thể 250 độ. Sáng sớm dương khí sinh, buổi trưa thì dương khí thịnh, đến chiều thì dương khí vơi đi mà khí môn đóng lại. Khí dương tự ấm rồi thành nóng, nóng rồi tự nhẹ đi cho nên trong một ngày sáng trưa và chiều có khác nhau.

Khí âm có tinh mà giữ trong khí dương bảo vệ vững ở ngoài, khí âm không thắng được khí dương thì mạch lạc lõng lẻo đi yếu mà vội quá thì thành chứng cuồng. Khí dương không thắng được khí âm thì khí trong ngũ tạng tranh nhau mà chín khiếu không thông (chín khiếu thuộc về ngũ tạng thiếu dương khí thời tranh nhau ngừng lại cho nên các khiếu không thông).

Vì thế bậc thánh nhân để cho âm dương quân bình thì gân mạch và xương tủy mới vững chắc mà khí huyết ôn hòa thì tà khí không làm hại được.

Trích Y Tôn Tập Lục – L.Y Trần Văn Căng

Trả lời

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.

.