fbpx

TIỂU SỬ LÊ HUY TRÁC

黎 輝 卓.

Quán lán liêu xá, huyện Đường Hào, tỉnh Hải Dương (nay là huyện Yên Mĩ tĩnh Hưng Yên). Cha làm quan chức thượng thư cho ông học ở kinh đô, ông nổi tiếng hay chữ. Năm 20 tuổi nhân cha tạ thế ông về quê cư tang. Lúc này Lê Hiến Tông lên ngôi, nạn Trịnh Nguyễn đang phân tranh, Chúa Trịnh lại độc đoán khiến Lê Duy Mật hùng cứ vùng Thanh Hóa và các đảng phù Lê duyệt Trịnh nổi nên khắp các châu huyện. Ông chán việc khoa cử nên lấy hiệu là Lãn Ông (ông lười) để tự cười mình rồi xếp bút nghiên lo việc đao cung. Ông nhập vào đoàn quân chinh chiến tỏ ra rất can đảm và mưu trí chủ tướng tin yêu, nhưng nản lòng vì cảnh đồng bào giết hại lẫn nhau, nhưng dù thu được nhiều phen chiến thắng ông vẩn không hứng thú gì. Bổng anh ông từ trần ở Hương Sơn, Nghệ An đây là quê ngoại. Anh ông ở đó phụng dưỡng thân mẫu nay mất đi thì mẹ già và các cháu không ai chăm nom. Ông phải vội vã từ quan về Nghệ An thu xếp việc nhà, nhân thể ông có làm bài thơ tự thán.

Nguyên văn:

十年磨一劍。鋒刃正光芒。Thập niên ma nhất kiếm. Phong nhận chính quang mang.

殺氣黃牛斗。嚴威動雪霜。Sát khí hoàng ngưu đẩu. Nghiêm uy động tuyết sương.

入秦旣不坷。歸漢亦未遑。Nhập tần ký bất khả. Quy hán diệc vị hoàng.

湖海空飄蕩。壯志成大狂。Hồ hải không phiêu đảng. Tráng chí thành đại cuồng.

Dịch rằng.

Mười năm mài mũi gươm trường.

Hào quang sáng quắc phi thương an đàng.

Ngất trời sát khí mơ màng.

Nghiêm uy chuyển động tuyết sương mịt mù.

Tìm đường về Hán chưa xong.

Sang Tần thì việc đã không thành rồi.

Bể hồ trôi dạt đôi nơi.

Cho người tráng sĩ ra người cuồng ngong.

Ông vừa ngán ngẩm cuộc đời, vừa lo nghỉ việc nhà, rồi ông lâm phải 1 chứng bệnh nặng trị mãi không khỏi, sau phải đem đến y sỉ họ Trần ở huyện Thanh Sơn nhờ chữa. Họ Trần vốn người học rộng biết nhiều, thi đỗ hương tiến (cử nhân) rồi chuyển về nghề thuốc nay chữa cho Lãn Ông gần 1 năm thì lành bệnh. Trong khi chữa bệnh Lãn Ông nghiên cứu sách thuốc vụt tỉnh ngộ rằng ở đời không phải chỉ có vỏ công, văn trị mới là sự nghiệp. Còn có sự nghiệp hiếu sinh nữa đó là nghề thuốc, vừa bảo vệ thân mình vừa cứu giúp nhân thế, ông đem bộ phùng thị cẩm nang ra khảo sát. Họ Trần thấy ông đã hiểu đến chổ huyền ảo bèn đem tất cả kinh nghiệm truyền thụ cho ông. Ít lâu sau đánh tranh chụm máy thảo sương, ở cửa rừng Hương Sơn thu thập sách thuốc, đêm ngày kê cứu sách thuốc 1 mình trong 3 năm. Trí thức về y học đã mỡ mang nhiều nhưng chưa dám cho mình là giỏi, lại dùi mài mấy năm nửa cho thật chín chắn. Bây giờ mới bắt đầu hành nghề, rồi sau khi cứu chữa nhiều bệnh nhân, cứu xét bao nhiêu y án, Ông mới đem những tâm đắc về y học soạn ra bộ Y Tôn Tâm Lĩnh gồm 65 quyền. Tính ra 10 năm trời cặm cuội mới hoàn tất bộ sách này. Vậy mà ông vẩn chưa dám công bố, ông muốn khuếch trương sự thực nghiệm trước nên đã mở trường dạy thuốc và lập hội để cho môn sinh đang học hay đã hành nghề có dịp gặp gở trao đổi kiến thức.

Một hôm một ông họ Trần vừa đổ giải nguyên đến chơi thấy trên án chồng bộ sách Tâm Lĩnh cười nhạt mà rằng đạo lý con đường trị đời rất lớn, bao nhiêu chính sách hay, phép tắc giỏi đều ở đây mà ra, còn như nghề thuốc chỉ vỏn vẹn một đôi chổ trong ngoài sử mà thôi, bởi vậy bọn nhà nho ta nên lấy việc chống đở ngôi vua làm sự nghiệp lớn, chứ khư vào một thuật sao cho rộng được nghĩa đạo lý. Ông nghe nói ngậm ngùi than không đâu không có từ lớn đến nhỏ, biết bao nhiêu việc nhỏ phải làm, há chỉ có một việc nào đó mưu ích lợi cho nhân loại hay sao?

Sau nhân đến vãn cảnh ngôi chùa ông viết bài thơ nhàn hứng.

Sơn tăng nhàn lý thủy vân mang.

山 僧 閒 裏 水 雲 茫

Khởi tự nhàn u tọa thảo đường.

豈 似 閒 醫 坐 草 堂

Điểu luyến ưu song truyền tế ngữ.

鳥 戀 幽 窗 傳 細

Hoa ngưng cầm vận đệ vi hương.

化 凝 琴 韻 遞 微 香

Công danh phân ngoại khan lưu thủy.

功 名 分 外 看 流 水

Nhân nghĩa trân tàng bất hoán phương.

仁 義 珍 藏 不 換 方

Gia cát khởi lâm tam cố hậu.

诸 葛 豈 憐 顧 厚 三

Nang vô thi tửu bạc nam dương.

囊 無 诗 酒 簿 南 陽.

Bản dịch Nguyễn Trọng Thuật.

Chùa đây cảnh khá gọi là nhàn.

Nhàn cũng chưa bằng cảnh cụ lang.

Chim mếm sông râm dìu dặt gáy.

Hoa ưa đàn ngọt, ngọt ngào hương.

Công danh ngoài ngỏ xuôi dòng nước.

Nhân nghĩa trong nhà sẳn có phương.

Gia cát vị gia ba bận rướt.

Thơ cùng rựu hết chán nam dương.

Gia Cát Khổng Minh lúc cày ruộng ở Nam Dương thì chí ở đạo đức, sao vì nể lời mời của Lưu Bị ra phụ tá chí lại ở công danh. Lãn Ông trước cắp gươm tòng quân chí ở công danh, sau quay về giảng cầu thực học để mở lối cho đời sau chí lại ở đạo đức.

Môn thuốc của ông không theo hẳn các sách thuốc của Trung Quốc, ông gia giảm tùy theo phong thổ nước nhà, tùy thể chất của người trong nước, nên yên ổn chắc chắn hơn. Ông Vũ Xuân Hiếu để tựa bộ Tâm Lĩnh nói rằng: Lãn Ông luận cái khí bẩm của nam phương, khác với bắc phương. Nên cách trị liệu khác với tiền nhân. Đại Tráng thiền sư một nhà học rộng cùng thời cũng nói: Lãn Ông tra cứu phương thức của mọi nhà mà phát minh ra những lẽ cổ nhân chưa biết đến. Về thuốc nam ông chú ý đến nhiều biên rỏ tên của những vị thuốc cả ở đất nước ta, cùng chú giải tường tận tính thuộc, và cách chữa chữa trong tập lĩnh nam bản thảo.

Tóm lại ông học theo cổ nhân nhưng không nô lệ hút tính túy của tàu, để lập ra môn bộ cho người nam.

Năm Cảnh Hưng 43 ông đã 64 tuổi quan Chánh Đường (Tể Tướng) Nguyễn Hoãng trước trấn thủ Nghệ An đã từng biết ông. Nên tâu Chúa Trịnh Sâm truyền chỉ vời ông ra ngoài Hà Nội chữa bệnh cho Thái Tử Trịnh Cán. Ông nghĩ khước từ không được chỉ mong ra đến kinh thành gặp người có hằng tâm, hằng sản ấn hành cho bộ Tâm lĩnh, để truyền lại hậu thế là lấy làm toại nguyện.

Ông vào phủ chúa xem mạch cho thế tử mới lên 6 mà bệnh trọng. Biết không sống được nếu dùng cách chữa công hiệu ngay cho tạm đở thì sẽ bị giử lại kinh đô lâu ngày. Nên chỉ kê một đơn thuốc hòa hoản mà thôi. Trinh Sâm xem đơn khen là y lý tinh thông, truyền ban cho ngân lượng. Ông hết sức từ chồi, xin về nhưng chúa bắt phải có lệnh mới được hồi hương, ông ra trọ ngoài phố tiếng thuốc giỏi thợ hay khí tiết thanh cao, lừng lẩy trong và ngoại triều nội. Các bậc quan to, các hàng thân sẽ hoặc xin chữa bệnh, hoặc gửi văn thơ xướng họa rất nhiều.

Ở kinh thành 6 tháng, ông vào vương phủ làm thuốc 2 lần được chúa quý trọng, thưởng tiền để may áo mới để vào chầu cho trọng thể. Nhưng ông không chịu sắm mỗi khi vào chầu chỉ đi mượn áo mủ, còn ở nhà trọ cứ nguyên quần áo mộc mạc của bậc nhà quê.

Giữa năm ấy Trịnh Sâm nhân đi coi đua thuyền về bị cảm, bệnh thốt trỡ nên trầm trọng, triệu vào, ông hết sức chữa mà không lui được. Ngày 11 tháng 9 chứa từ trần, Thế Tử Trịnh Cán tuy đã bớt, nhưng hôm sau ra triều làm lể nối ngôi lại bị cảm và lên cơn suyển nặng. Ông bèn nói thác có thư ở nhà (Nghệ An) gọi về vì nhà có người bệnh nặng nguy cấp và xin tạm trở lại cố hương. Ông có bài thơ từ giã học trò ở Hà Nội để về quê.

Cao hoan vô kế khước không hoàn.

高 肓 無 計 却 空 還.

Trúc trượng mang hài nhập cố san.

竹 杖 芒 鞋 入 故 山

Ma kiếm độc thư quân tráng chí.

磨 劍 讀 書 君 壯 志

Huề cầm trước tửu ngã đà nhan.

攜 琹 酌 酒 我 酡 顏

Đình tiền nguyệt sắc vô thu hứng

庭 前 月 色 留 秋 興

Tường ngoại châm thanh khởi dạ hàn.

牆 外 砧 聲 豈 夜 寒

Biệt hậu chư quân như ức ngã.

別 後 諸 君 如 憶 我

Vân yên thâm xứ khả trùng khan.

雲 煙 深 處 可 重 看.

Bản dịch củ:

Về thôi, thôi chịu bệnh cao hoang.

Gậy trúc giầy rơm nẻo cố hương.

Chuốc chén ôm cầm thôi chếch choáng.

Mài gươm đọc sách bác hiên ngang.

Trước sân bóng nguyện thu cao hứng.

Ngoài ngỏ dồn chân lạnh thấu xương.

Các bác tiễn tôi rồi có nhớ.

Cứ trông thâm thẩm chổ mây rừng.

Về nhà được mấy hôm được tin có loạn kiêu binh. Trịnh Cán bị phế rồi chết, Trịnh Khải lên tước vị . Ông nghỉ mình như cá thoát lưới ngồi chép lại những việc đã chứng kiến ở kinh thành. Tập du ký: Thương Kinh Ký Sự phụ lục vào bộ Tâm Lĩnh thành 65 quyển.

Từ đó ông mỡ mang thêm cái y hội cũ để giảng tập cho học trò, sống trong cảnh già nhàn cảnh phong lưu.

……………………………………………………………………………………………

–          cao hoang là cái màng ngăn ngay chổ hoành cách mô trên thì có tim phổi, dưới có bao tử ruột, bệnh đã truyền đến cao hoang thời nguy hiểm khó cứu.

–          cố san là cài núi củ của nhà hiền triết ẩn cứ

 

Nói về nền đông y trước đây hơn 4000 năm tại nước Trung Hoa. Khởi đầu đức Thần Nông nghiên cứu tính chất của nhiều vị thuốc, rồi ghi thành bộ Thần Nông Bản Thảo, kế đến đức Hoàng Đế Hỏi bề tôi là ông Kỳ Bá lập bệnh tạng phủ, căn bệnh và phép chữa mà ông Kỳ Bá đáp lại và ghi thành quyển nội kinh.

Đến thời nhà Thương ông Y Doãn lập ra bài thuốc. Từ nhà Hán trở về sau, đời nào cũng có các bậc danh y trước tác ra nhiều sách. Những bộ sách ấy tuy chi tiết có hơi khác nhưng đại thể giống nhau. Đến đời nhà Minh nhà vua sai các Ngự Y soạn ra bộ Kim Giám nội khoa và ngoại khoa.

Riêng nước ta từ trước người làm thuốc vẫn theo các bộ sách thuốc do người Tàu trước tác. Có người làm theo bộ Y Học, có người làm theo bộ Cảnh Nhạc, cũng có người làm theo bộ Cẩm Nang. Duy quyển nội kinh do một vị vua thánh và một vị tôi thánh đều là bậc sinh trí vấn đáp thì nước Tàu và nước ta đều cho là quyển sách duy nhất. Đến đời nhà Ttrần Tuệ Tỉnh Thiền Sư nghiên cứu các vị thuốc nam để chữa bệnh tại các chùa ở bắc ninh ( bắc việt ) Thiền Sư đã ấn hành bộ Nam Dược Thần Hiệu nhưng sau người nhà Minh lấy bản ấn đem về tàu.

Lê Hưu Trác tiên sinh sanh vào thời vua Hiến Tông thời Lê nguyên quán ở Liêu Thượng (tức xã Cố Liêu) huyện Đương Hạo, tỉnh Hải Dương Bắc việt thời nhà Nguyễn đổi thành huyện Mỹ Hào thuộc tỉnh Hưng yên. Sau tiên sinh di cư vào quê mẫu thân ở xã Tĩnh Diểm, huyện hương sơn, Hà Tỉnh (Trung Việt) tiên sinh là nhà túc nho có tài làm thơ, mà chuyên tâm về làm thuốc. Khi già theo lời hiệu triệu có vào kinh đô thăng long chữa bệnh cho vua lê và thái tử.

Tiên sinh học rộng các sách thuốc lại nhiều kinh nghiêm và sáng kiến có biên soạn bộ Sách Hải Thượng Y Tôn Tâm Lĩnh cả thảy nhiều tập. Sở dĩ tiên sinh đặt tên là Hải Thượng và còn lái tên hiệu là Hải Thượng Lãn Ông (Ông già lười trên biển) là để ghi nguyên quán ở xã Liêu Thượng  Huyện Hãi Dương.

Tác giả Lãn Ông.

Đương lúc mà xuân khí trời hòa âm tôi hứng mát dưới hiên nha làm thuốc chổ sơn trang, thấy cá bơi chim hót. Tôi nghĩ rằng sách Đại Học có nói cách vật trí tri, học nho củng cùng lý ấy đương lúc nghỉ ngơi có người gõ cữa là ông cử nhân họ Trần đến chơi thấy trên bàn sách có bộ sách Tâm lĩnh. Ông trịnh trọng nói rằng: sách vỡ đạo lý rất nhiều, nào kinh nào truyện nào sử, thời thuật làm thuốc chỉ cho là một thuật hay một nghệ hơn nữa chỉ gọi là nhân thuật, tựa như đạo làm thuốc không ở trong đạo lý.

Tôi thở dài mà rằng: Sách thuốc dù để chữa bệnh nhưng bàn về phong, lôi, vũ, lộ tức là thuyết hưu cữu ở trong Chu Dịch, bàn về thủy hỏa âm dương tức là thái cực ở trong kinh dịch, nhà làm thuốc nói về thử, thấp, táo, hỏa, mà tìm đến chổ hòa bình, lại bảo bệnh nhân cách dùng ngũ vị tránh lục khí. Cổ nhân nói: Quán được lẽ của Tam Tài là thiên địa nhân mới làm được thầy thuốc. Lại nói đạo làm thuốc như thể người ta làm tề tướng để điều nhiếp âm dương, không phải để nghiệm những lời tôi đã nói hay sao.

Tôi lúc 15 tuổi tiên nghiêm tạ thế đến cuối năm quân binh có loạn, tôi phải tỵ nạn nhiều nơi, gặp tiên sinh họ Võ ở Hoài Đăng, bảo tôi về thuật âm dương, tức là học thiên văn nhân sự trong khoảng vài năm tôi đã tòng quân để thí nghiêm việc học, dù lâm nguy cũng được yên ổn, vị thống tướng muốn đề bạt nhưng tôi chưa muốn ra, chợt anh tôi báo tin từ mẫu bệnh qua đời, tôi giải giáp về quê chịu tang lại thêm mấy đứa con nhỏ. Nhiều phần vất vả lâm ra bệnh nặng, đến thầy thuốc họ trần ở Thành Sơn để xem bệnh xin thuốc và rồi đọc sách thuốc một thể.

Một hôm đọc bộ sách cẩm nang (sách thuốc) những lẻ âm dương, thủy hỏa tôi được thông, thầy họ Trần thấy lạ bèn truyền hết những chổ mình đã biết cho tôi đến 2, 3 năm mới được phần nào, từ đó lại đóng cữa đọc sách rồi chữa bệnh đều được toàn hoạt trong quận gọi tôi là thầy thuốc.

Tôi muốn đem những đều đã học đã biết trước tác thành sách nhưng lại nghĩ rằng, lẽ làm thuốc man mác làm sao hợp được trăm bộ sách lại thành một bộ, vả lại làm thuốc không bằng lập bài thuốc, cắt chén thuốc mới chỉ chữa được một người. Nhưng một lời sai di họa không ít.

Ta hãy xem ông Việt Công thời Tần tự xưng là y thánh làm bộ sách Nam Kinh mà cho rằng huyệt Mệnh Môn ở quả Thận bên phải, họ Lưu, họ Chu bảo là một thủy không thắng được năm hỏa, rồi thiên dùng thuốc hàn lương, rồi người đời sau bảo rằng lời nói của 2 họ ấy còn lại, thời đạo của Hiên Viên Kỳ Bá không sáng tỏ. Ông Tức Trai nê về lời nói của ông Khiết Cổ lại bảo rằng vị Nhân Sâm có thể trợ hỏa, người đời sau cho là vì một lời nói của ông, để chứng hư lao cứ uống thuốc hàn đến chết. Hơn nữa ông Lý Tư Kiến bàn về chứng hàn rồi Ông Thành Vô Kỷ chú giải. Những vị ầy đều khiến người đời sau phải chỉ trích vì thế tôi có chí về làm sách mà lại chưa dám làm.

Gần đây tôi chữa 1 người biến chứng rất nhiều lại phải xem sách và nghỉ ngợi mới chữa khỏi. Sau người anh tới là Thạch Trại khuyên tôi rằng: Đã không ra giúp đời mà chịu làm thầy thuốc thời y thuật cũng chỉ ở trang nho thuật, nhưng chỉ để dùng trong nhà sao bằng ghi chép lại khiến sau trăm đời. Người đọc sách bảo rằng, sách này nói được những lời mà người đời trước chưa hoàn được để mình là một nhà dìu dắt đủ cho nhà làm thuốc sau này, như vậy không nên sao.

Thượng tuần tháng 2 năm canh dần.

Niên hiệu Cảnh Hưng

     Lê Hữu Trác. Hiệu Lãn Ông.

 

………………………………………………………………………………………..

VÌ ÂN ĐỨC NGƯỜI XƯA.

Tôi học nho, học sang nghề thuốc mười năm khồ tâm trên không có thầy giỏi, dưới không có bạn hiền, khi được toàn bộ Cẩm Nang mới rỏ chân cơ thủy hỏa, diệu dụng của âm dương. Rồi con gái thứ 2 của tôi là An, con gái thứ 3 của tôi là Hoàn kế tiếp ốm nặng. Tôi chỉ đem thuốc thủy hỏa hết sức cứa vãn mà đều được toàn hoạt. Rồi chữa đến họ hàng, ngoài làng cũng được công hiệu. Vì thế  tôi cảm kích vẽ thần tượng Đức Trương Công tác giả bộ sách Cẩm Nang, quét sạch một thư viện sớm tối hương đăng để báo ơn đức ngày. Tôi thu học phí của môn sinh mỗi tên một quan tiền rồi giao cho người giữ để lấy lãi, cùng với số tiền bệnh nhân trả lễ. chiết lấy một phân trong sáu mươi phân. Cứ đầu năm chọn ngày sửu lể cùng học trò kính tế. Nay tôi ghi lễ này để các bậc quân tử về sau có chí về Y dược nên nghỉ đến nguồn gốc.

Hải Thượng.

Nguồn: Giai thoại làng nho và Y Tôn Tâm Lĩnh..

 

 

Trả lời

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.

.